This is default featured post 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured post 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured post 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured post 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured post 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ VIÊM HỌNG MẠN TÍNH

NGUYÊN NHÂN

- Viêm mũi xoang lâu ngày
- Viêm amydan mạn tính.
- Vẹo vách ngăn, do cuốn mũi quá phát, do polyp.
- Chất kích thích: hơi hóa học, bụi vôi, bụi xi măng, thuốc lá, rượu...

TRIỆU CHỨNG

1. Triệu chứng chức năng.
Cảm giác khô họng, cay họng, ngứa họng, vướng họng.
Ho, khạc, đằng hắng Nuốt nghẹn
2. Triệu chứng thực thể
A) Viêm họng xuất tiết.
Niêm mạc họng đỏ, ưđt những hạt lổn nhổn ở thành sau họng, không có tia mạch máu chung
Tiết nhầy chảy dọc theo thành họng.
B) Viêm họng quá phát.
Niêm mạc họng dày và đỏ.
Có nẹp giả ở trụ sau
Rất nhạy cảm ở họng và dễ buồn nôn khi đè lưỡi
C) Viêm họng teo.
Niêm mạc ưở nên nhấn, mỏng, ưắng bệnh có mạch máu nhỏ.
Tiết nhầy khô lại và biến thành vảy dính vào niêm mạc.

ĐIỀU TRỊ

- Xông họng vđi Melyptol + Dexacol
- Súc họng bằng Orafar hoặc nước muối sinh lý
- Xịt họng vđi Anginovac
- Uống: Solacy lviên X 31ần /ngày - thời gian dùng 2-3 tháng
- Thuốc ngậm: Dorithicin, Tyrotab,
- Kết hợp điều trị các nguyên nhân bệnh

Thứ Hai, 5 tháng 11, 2018

Thuốc Fosamax Plus

Fosamax Plus


Nhóm thuốc: Thuốc giảm đau, hạ sốt, Nhóm chống viêm không Steroid, Thuốc điều trị Gút và các bệnh xương khớp
Dạng bào chế:Viên nén
Đóng gói:Hộp 1 vỉ x 4 viên
Thành phần:
Acid Alendronic (dưới dạng Alendronate natri trihydrate) 70mg; Vitamin D3 (dưới dạng vitamin D3 100.000IU/g) 2800IU
SĐK:VN-17522-13
Nhà sản xuất: Frosst Iberica S.A. - TÂY BAN NHA Estore>
Nhà đăng ký: Merck Sharp & Dohme (Asia) Ltd. Estore>
Nhà phân phối: Estore>
Chỉ định:
- Điều trị loãng xương ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh để phòng ngừa gãy xương, bao gồm gãy xương hông và xương sống (gãy lún cột sống) và để giúp đảm bảo đủ vitamin D.
- Điều trị loãng xương ở nam giới để ngăn ngừa gãy xương và để giúp đảm bảo đủ vitamin D.

Đặc tính dược lực học:

Alendronat natri:

Alendronat natri là một bisphosphonat tác dụng như một chất ức chế mạnh và ức chế đặc hiệu sự tiêu xương qua trung gian hủy cốt bào. Bisphosphonat là những chất tổng hợp tương tự pyrophosphat được liên kết với hydroxyapatit có trong xương.
Alendronat là một bisphosphonat mà trong các nghiên cứu trên động vật, có đặc tính định khu ưu tiên vào các vị trí có tiêu xương, đặc biệt là bên dưới các hủy cốt bào và ức chế được sự tiêu xương do hủy cốt bào, mà không có tác dụng trực tiếp trong tạo xương. Vì tạo xương và tiêu xương đi đôi với nhau, nên sự tạo xương cũng bị giảm, nhưng giảm ít hơn sự tiêu xương, dẫn tới có sự tăng dần khối lượng xương. Trong thời gian dùng thuốc alendronat, xương bình thường được tạo thành và gắn alendronat vào khuôn của xương và ở đó, thuốc sẽ không còn hoạt tính dược lý.

Colecalciferol (Vitamin D3):

Colecalciferol (Vitamin D3) là một secosterol, là tiền chất tự nhiên của hormon calcitriol điều hòa calci (1,25-dihydroxyvitamin D3).
Vitamin D3 được tạo ra ở da do chuyển hóa quang hóa từ 7-dehydrocholesterol sang tiền vitamin D3 bằng ánh sáng cực tím. Khi phơi nắng không đủ, thì vitamin D3 sẽ là chất dinh dưỡng thiết yếu. Vitamin D3 cần cho sự tạo xương bình thường. Sự thiếu hụt vitamin D sẽ gia tăng khi không được tiếp xúc ánh sáng mặt trời và thiếu bổ sung dinh dưỡng. Thiếu vitamin D liên quan đến cân bằng âm tính về calci, hao xương và tăng nguy cơ gãy xương. Trong các trường hợp nghiêm trọng, thiếu hụt vitamin D sẽ gây tăng năng thứ phát tuyến cận giáp, hạ phosphat huyết, yếu cơ gần điểm bám và nhuyễn xương, hơn nữa còn làm tăng nguy cơ ngã và gãy xương ở người loãng xương.

Đặc tính dược động học:

Alendronat natri:

So với một liều chuẩn tiêm tĩnh mạch, khả dụng sinh học đường uống trung bình ở phụ nữ là 0,7% với những liều trong phạm vi từ 5 - 40 mg, uống sau 1 đêm nhịn ăn và 2 giờ trước một bữa ăn sáng chuẩn.
Alendronat được phân bố nhất thời ở mô mềm, sau đó phân bố lại vào xương hoặc bài xuất qua nước tiểu. Liên kết với protein trong huyết tương khoảng 78%.
Sau khi tiêm tĩnh mạch liều duy nhất 10 mg, độ thanh thải ở thận là 71 mL/ phút. Nửa đời kết thúc của thuốc trên 10 năm, có lẽ là do sự giải phóng alendronat từ xương.

Colecalciferol (Vitamin D3):

Vitamin D3 được hấp thu ở niêm mạc ruột nhờ muối mật và lipid, tích lũy ở gan, mỡ, xương, cơ và niêm mạc ruột. Thuốc liên kết với α-globulin huyết tương. Trong cơ thể, vitamin D3 chuyển hoá ở gan và thận tạo ra chất chuyển hoá có hoạt tính là 1,25-dihydroxycolecalciferol nhờ enzym hydroxylase. Vitamin D3 thải trừ chủ yếu qua phân, một phần nhỏ thải qua nước tiểu, thời gian bán thải 19 - 48 giờ.
Liều lượng - Cách dùng
Liều lượng khuyến cáo là mỗi tuần uống một viên duy nhất.

Phải uống thuốc ít nhất là 30 phút trước khi ăn, uống hoặc dùng thuốc lần đầu trong ngày với nước thường. Các đồ uống khác (kể cả nước khoáng), thức ăn và một số thuốc có thể làm giảm sự hấp thụ của alendronat.

Để đưa thuốc xuống dạ dày dễ dàng nhằm giảm tiềm năng kích ứng/ các tác dụng ngoại ý ở thực quản, phải uống thuốc với một cốc nước đầy vào lúc mới ngủ dậy trong ngày và người bệnh không được nằm trong vòng ít nhất 30 phút sau khi uống thuốc và cho tới sau khi ăn lần đầu trong ngày. Không được uống thuốc trước khi đi ngủ hoặc còn đang nằm trên giường khi mới thức dậy trong ngày. Nếu không tuân thủ những chỉ dẫn này, nguy cơ tác dụng có hại cho thực quản có thể tăng lên.

Người bệnh cần bổ sung calci và/ hoặc vitamin D, nếu lượng nhập trong chế độ ăn không đủ. Thầy thuốc cần quan tâm đến lượng vitamin D trong các vitamin và lượng dinh dưỡng bổ sung. Thuốc cung cấp lượng vitamin D cho mỗi tuần, căn cứ vào liều hàng ngày là 800 đơn vị.

Không cần phải điều chỉnh liều cho người cao tuổi hoặc người bệnh suy thận từ nhẹ đến vừa phải (độ thanh thải creatinin từ 35 đến 60 mL/ phút). Không khuyến cáo dùng Thuốc cho người bệnh suy thận nặng hơn (hệ số thanh thải creatinin < 35 mL/ phút) do chưa có kinh nghiệm lâm sàng đối với các đối tượng này.

QUÁ LIỀU - XỬ TRÍ:

Alendronat natri: Không có thông tin đặc biệt về điều trị quá liều với alendronat. Uống quá liều có thể gây giảm calci huyết, giảm phosphat huyết, xuất hiện các tác dụng ngoại ý ở đường tiêu hóa trên như rối loạn tiêu hóa, ợ nóng, viêm thực quản, viêm hoặc loét dạ dày. Cần cho uống sữa hoặc thuốc kháng acid để kết hợp với alendonat. Do nguy cơ kích ứng thực quản, không được gây nôn và người bệnh cần ở tư thế hoàn toàn thẳng đứng.
Colecalciferol: Chưa có dữ liệu ghi nhận độc tính của vitamin D khi cho uống kéo dài ở người lớn khỏe mạnh với liều dưới 10000 IU/ ngày. Trong nghiên cứu lâm sàng trên người lớn khỏe mạnh, liều hàng ngày là 4000 IU vitamin D3 trong thời gian tới 5 tháng không thấy tăng calci niệu hoặc tăng calci huyết.

Chống chỉ định:
Các dị thường như hẹp hoặc mất tính đàn hồi của thực quản dẫn đến chậm làm rỗng thực quản.
Không có khả năng đứng hoặc ngồi thẳng ít nhất 30 phút.
Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Giảm calci huyết (xem phần Lưu ý đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).
Tương tác thuốc:
Alendronat natri: Nếu dùng cùng lúc, có thể các sản phẩm bổ sung calci, thuốc kháng acid và các thuốc dùng đường uống khác sẽ ảnh hưởng đến sự hấp thụ của alendronat. Vì vậy, người bệnh phải chờ ít nhất nửa giờ sau khi uống thuốc rồi mới uống thuốc khác.
Dùng đồng thời thuốc thay thế hormon (HRT) (estrogen ± progestin) và alendronat natri đã được đánh giá trong hai nghiên cứu lâm sàng trong thời gian một và hai năm ở phụ nữ loãng xương sau mãn kinh. Sử dụng kết hợp (HRT+ alendronat natri) đã làm tăng khối lượng xương nhiều hơn, đồng thời giảm thiểu nhiều hơn sự thoái hóa xương, so với khi dùng từng thuốc riêng. Trong các nghiên cứu này, hồ sơ về tính an toàn và dung nạp của trị liệu phối hợp thống nhất với tính an toàn và độ dung nạp của riêng từng thuốc.
Các nghiên cứu tương tác đặc biệt chưa được thực hiện. Alendronat natri/ Colecalciferol đã được sử dụng trong những nghiên cứu về loãng xương ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh với một loạt các thuốc kê đơn thông thường, không thấy có bằng chứng về tương tác có hại trên lâm sàng.
Colecalciferol: Olestra, các dầu khoáng vật, orlistat, các chất liên kết acid mật (ví dụ: colestyramin, colestipol) có thể cản trở sự hấp thụ của vitamin D. Thuốc chống co giật, cimetidin và thuốc lợi niệu nhóm thiazid có thể làm tăng dị hóa vitamin D.
Tác dụng phụ:
- Toàn thân: Các phản ứng quá mẫn cảm bao gồm mày đay, hiếm gặp phù mạch. Cũng như với các bisphosphonat khác, đối với alendronat có gặp những triệu chứng thoáng qua như đáp ứng ở pha cấp tính (đau cơ, khó ở, suy nhược và hiếm gặp sốt), điển hình liên quan đến khi bắt đầu điều trị. Hiếm gặp hạ calci huyết triệu chứng, nhìn chung có liên quan đến các điều kiện thuận lợi của bệnh. Hiếm gặp phù ngoại vi.
- Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, viêm thực quản, trợt thực quản, loét thực quản, hiếm gặp hẹp hoặc thủng thực quản và loét miệng - hầu; hiếm gặp loét dạ dày hoặc tá tràng, một số loét nghiêm trọng có kèm biến chứng. Hiếm gặp hoại tử xương khu trú ở hàm, thường liên quan đến nhổ răng và/ hoặc nhiễm khuẩn tại chỗ và lâu khỏi.
- Cơ - xương: Đau xương, khớp và/ hoặc cơ, hiếm khi nghiêm trọng và/ hoặc làm mất khả năng vận động; sưng khớp; gãy đầu trên xương đùi do lực tác động nhẹ.
- Hệ thần kinh: Hoa mắt, chóng mặt, rối loạn vị giác.
- Da: Phát ban (thỉnh thoảng kèm nhạy cảm với ánh sáng), ngứa, hiếm gặp các phản ứng nghiêm trọng ở da như hội chứng Stevens Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc.
- Các giác quan đặc biệt: Hiếm gặp viêm màng mạch nho, viêm củng mạc hoặc viêm trên củng mạc.
Thông báo cho thầy thuốc các tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Chú ý đề phòng:
Đường tiêu hóa trên
Giống như các thuốc chứa bisphosphonat khác, Thuốc có thể gây kích ứng tại chỗ niêm mạc đường tiêu hóa trên.
Đã có báo cáo về những phản ứng có hại ở thực quản, như viêm thực quản, loét thực quản và bào mòn thực quản, hiếm khi dẫn tới hẹp hoặc thủng thực quản ở người bệnh điều trị bằng alendronat. Một số trường hợp nặng phải nằm viện. Vì vậy, thầy thuốc cần cảnh giác với bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào báo hiệu về phản ứng thực quản và người bệnh cần được chỉ dẫn để ngừng uống thuốc và báo cho thầy thuốc ngay nếu thấy khó nuốt, nuốt đau, đau sau xương ức, ợ nóng mới xuất hiện hoặc ngày một xấu đi.
Nguy cơ phản ứng có hại nghiêm trọng đối với thực quản càng lớn nếu người bệnh đi nằm sau khi uống Thuốc và/ hoặc không uống thuốc với một cốc đầy nước và/ hoặc tiếp tục dùng thuốc khi có những triệu chứng nghi là kích ứng thực quản. Vì vậy, cung cấp đầy đủ thông tin cho người bệnh để họ hiểu rõ các chỉ dẫn về liều dùng, cách dùng là rất quan trọng (xem phần Liều dùng và cách dùng).
Mặc dù không thấy tăng nguy cơ trong những thử nghiệm lâm sàng mở rộng, đã có một số báo cáo hiếm gặp (sau khi đưa thuốc ra thị trường) về loét dạ dày và tá tràng, một số trường hợp nặng có biến chứng.
Vì alendronat có thể có những tác dụng kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa trên và có tiềm năng làm bệnh sẵn có xấu đi nên cần thận trọng khi cho người bệnh có vấn đề về đường tiêu hóa trên, như khó nuốt, có các bệnh thực quản, viêm hoặc loét dạ dày, tá tràng khi dùng Thuốc.
Hoại tử xương hàm khu trú
Hoại tử xương hàm khu trú (ONJ), thường liên quan đến nhổ răng và/ hoặc nhiễm khuẩn tại chỗ lâu khỏi đã gặp (tuy hiếm) khi dùng bisphosphonat đường uống. Phần lớn những trường hợp hoại tử xương hàm do dùng bisphosphonat là ở bệnh nhân ung thư điều trị bằng bisphosphonat tiêm tĩnh mạch. Những yếu tố nguy cơ về ONJ đã biết bao gồm chẩn đoán ung thư, trị liệu phối hợp (ví dụ: hóa trị liệu, xạ trị, dùng corticosteroid), kém vệ sinh răng miệng, các bệnh mắc đồng thời (bệnh về răng từ trước, thiếu máu, bệnh đông máu, nhiễm khuẩn). Người bệnh bị hoại tử xương hàm khu trú (ONJ) cần được sự chăm sóc phù hợp của một bác sỹ phẫu thuật miệng và cân nhắc ngừng sử dụng bisphosphonat tùy theo kết quả đánh giá nguy cơ/ lợi ích trên từng người bệnh cụ thể. Các thủ thuật răng có thể làm bệnh nặng hơn.
Đau cơ, xương, khớp
Người bệnh dùng bisphosphonat có khi gặp đau xương, khớp và/ hoặc đau cơ. Theo kinh nghiệm sau khi đưa thuốc ra thị trường, những triệu chứng này hiếm khi ở mức độ nghiêm trọng và/ hoặc làm mất khả năng vận động. Thời gian bắt đầu xuất hiện triệu chứng dao động từ một ngày tới nhiều tháng sau khi bắt đầu điều trị. Hầu hết người bệnh giảm triệu chứng sau khi ngừng thuốc. Một số người bệnh bị tái phát khi dùng lại với cùng thuốc đó hoặc với một bisphosphonat khác.
Không nên dùng Thuốc cho người bệnh có độ thanh thải creatinin < 35 mL/ phút.
Cần cân nhắc các nguyên nhân gây loãng xương khác ngoài thiếu hụt estrogen, tuổi cao và sử dụng glucocorticoid.
Chuyển hóa muối khoáng
Alendronat natri: Phải điều chỉnh hiện tượng hạ calci huyết trước khi bắt đầu dùng Thuốc (xem phần Chống chỉ định). Cũng cần điều trị tích cực những rối loạn khác tác động tới chuyển hóa chất khoáng (như thiếu hụt vitamin D). Với người bệnh có các rối loạn này, cần theo dõi nồng độ calci trong huyết thanh và các triệu chứng hạ calci huyết trong quá trình điều trị với Thuốc.
Do các tác dụng tích cực của alendronat làm tăng khoáng xương, có thể xảy ra hiện tượng giảm nhẹ và không có triệu chứng nồng độ calci và phosphat trong huyết thanh.
Colecalciferol: Vitamin D3 có thể làm gia tăng mức độ tăng calci huyết và/ hoặc tăng calci niệu khi dùng cho người mắc các bệnh có liên quan tới sự tăng quá mức calcitriol mà không điều hòa được (ví dụ: bệnh bạch cầu, u lympho bào, bệnh sarcoid). Với những người bệnh này cần theo dõi nồng độ calci trong nước tiểu và huyết thanh.
Người bệnh kém hấp thụ sẽ có thể không hấp thụ đầy đủ vitamin D3.
Để xa tầm tay trẻ em.

SỬ DỤNG CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ:
Thuốc chưa được nghiên cứu trên phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, vì vậy không được dùng cho các trường hợp này.

TÁC ĐỘNG TRÊN KHẢ NĂNG LÁI XE VÀ VẬN HÀNH MÁY MÓC:
Dùng thận trọng cho người lái xe và vận hành máy móc vì thuốc có thể gây tác dụng không mong muốn chóng mặt, hoa mắt cho người sử dụng.

CHẨN ĐOÁN X - QUANG XƯƠNG KHỚP

CHẨN ĐOÁN X - QUANG XƯƠNG KHỚP

1. Hình ảnh x quang xương khớp bình thường
1.1. Hình ảnh X quang xương:
- Các loại xương:
+ Các xương dài hay còn gọi là xương ống bao gồm: đầu xương ( xương xốp); thân xương có thành phần cản quang lớn là xương đặc (vỏ xương) và ống tủy không cản quang. Thành phần sụn gồm: sụn viền ở bờ xương và sụn tiếp hợp ở các đầu xương (ở người trẻ). Màng xương không cản quang nên không thấy được trên phim.
+ Các xương dẹt và xương con: thành phần chủ yếu là xương xốp được bao bọc bởi một lớp xương đặc rất mỏng xung quanh vì vậy cản quang kém.
1.2. Khớp :
Các thành phần thấy được trên phim của khớp là các đầu xương của khớp, và khe khớp. Khe khớp ở trẻ nhỏ thường rộng vì phần sụn đầu xương còn nhiều. Các thành phần còn lại không cản quang là sụn chêm, bao hoạt dịch, dây chằng chỉ thấy được trên phim chụp cộng hưởng từ.. Còn trên phim chụp X quang quy ước các thành phần này chỉ thấy được khi bị vôi hoá.
1.3. Nhân xương:
Còn được gọi là các điểm cốt hóa, với các xương dài chúng nằm ở đầu xương khi trưởng thành  sẽ cốt hoá và hoà nhập với thân xương. Các xương con và xương dẹt đều có nhân xương là phần sụn bao bọc xung quanh. Ở trẻ nhỏ thành phần chủ yếu của các xương tụ cốt là sụn nên chưa hiện hình trên phim. Tóm lại, quá trình phát triển của các nhân xương ban đầu là tổ chức sụn không cản quang, sau đó cốt hóa dần mới hiện hình trên phim chụp. Mỗi nhân xương được cốt hóa ở mỗi một thời điểm khác nhau của tuổi đời.Vì vậy, chúng hiện hình trên phim X quang cũng ở các thời điểm cũng khác nhau.
2. Những thay đổi bất thường ở xương trên phim chụp X quang
2.1. Số lượng:
Gồm có tình trạng thừa xương hoặc thiếu xương nhất là các xương bàn ngón chân tay do dị dạng bẩm sinh. Sự thay đổi này ít xảy ra và không quan trọng.
2.2. Hình dạng:
Sự thay đổi về hình dạng xương gặp khá phổ biến. Có thể gặp trên toàn bộ khung xương như kích thước xương lớn hơn bình thường do rối loạn nội tiết hoặc nhỏ hơn bình thường trong bệnh còi xương, suy dinh dưỡng. Thường gặp nhất là các biến dạng xương do gãy xương, u xương hay loạn sản xương.
2.3. Thay đổi cấu trúc :
Chúng ta có thể nhận biết được những thay đổi về cấu trúc của xương trên hình ảnh X quang thông qua sự thay đổi tính chất cản quang của nó, bao gồm:
- Tiêu xương: là tình trạng mất toàn bộ cấu trúc một vùng của xương. Ổ tiêu xương có thể ở đầu hay thân xương, trong tủy hay ở vỏ xương. Ranh giới thường nham nhở hoặc có thể rõ nét (như  trong những ổ tiêu xương của bệnh Kalher). Trong vùng tiêu xương, mật độ cản quang có thể đồng nhất hoặc có vách ngăn, cũng có khi có hình vôi hóa hoặc hình nốt cản quang đậm do mảnh xương chết tạo nên. Tiêu xương thường gặp trong u ác tính thể tiêu xương nguyên phát (sarcoma xương ) hoặc thứ phát (di căn)
- Dày đậm xương (do phản ứng tân tạo xương):  dày đậm xương có thể xảy ra bắt đầu từ các bè xương hoặc từ mặt trong của màng xương. Dày đậm xương thường gặp trong can xương ổ gãy, cốt tuỷ viêm giai đoạn mãn tính và ung thư  xương di căn ung thư xương thể tạo xương. Nếu dày đậm xương xảy ra ở xương dài có thể làm che lấp ống tuỷ.
- Loãng xương (thưa xương): Là hiện tượng giảm can xi của xương, thường gặp trong thưa xương ở người già, do bất động ổ gãy lâu ngày, giai đoạn đầu của lao xương khớp và cốt tuỷ viêm…. Do giảm mật độ can xi của xương nên các vân xương và bè xương thường hiện rõ trên phim chụp.
- Xương chết: Là tình trạng cấu trúc xương chỉ còn hiện diện thành phần các khoáng chất, không còn thành phần chất hữu cơ. Xương chết có thể xuất hiện trong cốt tuỷ viêm, hoại tử vô khuẩn sụn tiếp hợp đầu xương và các xương con đang trong quá trình cốt hoá.
Những thay đổi ở xương như mô tả trên đây có thể diễn ra độc lập hoặc kết hợp với nhau trong một số bệnh lý.
3.  Một số bệnh về xương
3.1. Gãy xương
- Yêu cầu chẩn đoán: đối với các ổ gãy xương lớn có di lệch nhiều, việc chẩn đoán tương đối dễ. Tuy nhiên, với các trường hợp gãy rạn, gãy không di lệch thì việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn. Chú ý tránh chẩn đoán nhầm đường gãy xương với các đường sáng ở xương như khe sụn tiếp hợp đầu xương, vết hằn của mạch máu hay đường khớp nối ở xương vòm sọ. Chẩn đoán một ổ gãy xương trên phim X quang phải xác định được:
+ Xác định trí của ổ gãy có thể dựa vào các mốc giải phẫu của hệ xương khớp, đối với các xương dài, có thể định khu theo vị trí các vùng (1/3 trên, giữa hay dưới ).
+ Xác định được hình thái ổ gãy hay kiểu đường gãy: Có nhiều dạng đường gãy như gãy ngang, gãy chéo vát, gãy dập nát, gãy phạm khớp, gãy bong sụn tiếp hợp, gãy cành xanh (ở trẻ em ), gãy lún (đối với cột sống hoặc xương vòm sọ)… Ngoài ra dựa vào hình thái ổ gãy để xác định các đường gãy xương bệnh lý như đường gãy xảy ra trên một kén xương, trên một vùng tiêu xương do u ác tính, một u tế bào khổng lồ hoặc một cốt tuỷ viêm…
Đánh giá sự di lệch của ổ gãy: có 5 kiểu di lệch là di lệch sang bên, di lệch chồng, di lệch cắm gắn, di lệch gập góc và di lệch xoay. Xác định sự di lệch ổ gãy của các xương dài phải căn cứ vào đầu ngoại vi của ổ gãy.
Với các ổ gãy mới, khe ổ gãy thường sáng, bờ ổ gãy sắc nét. Nhưng với các ổ gãy cũ đang trong quá trình liền xương thì khe ổ gãy không còn  rõ và  xung quanh ổ gãy xuất hiện hình thành can xương  ở các mức độ khác nhau, tùy theo thời điểm sau khi gãy xương. Trong trường hợp ổ gãy không liền, tạo khớp giả thì bờ hai đầu ổ gãy có hình ảnh dày đậm xương do xơ hóa và trở nên tròn nhẵn kiểu hình “chày cối ”.
-         Một số vị trí gãy xương thường gặp:
+ Chi trên: gãy cổ phẫu thuật xương cánh tay, gãy khối trên lồi cầu xương cánh tay, gãy xương trụ kết hợp sai khớp quay trụ trên ( gãy Monteggia ), gãy đầu dưới xương quay (kiểu Pouteau- Colles), gãy các xương bàn ngón tay
+ Chi dưới: gãy cổ xương đùi, gãy liên mấu chuyển xương đùi, gãy thân xương đùi, gãy xương mâm chày, vỡ xương bánh chè, gãy hai xương cẳng chân, gãy 1/3 dưới xương mác và kết hợp gãy mắt cá trong ( gãy Duyputren).
3.2. Bệnh nhiễm khuẩn xương
3.2.1. Viêm xương tủy xương lan truyền theo đường máu ở trẻ em
- Lâm sàng: thường gặp ở trẻ em khoảng dưới 15 tuổi, do tụ cầu gây nên. Vi khuẩn từ một ổ nhiễm khuẩn theo đường máu đến gây tổn thương tại xương. Vị trí ban đầu ở hành xương, nơi có giàu mạch máu. Biểu hiện bằng dấu hiệu đau đột ngột một vùng xương, sốt cao, bạch cầu tăng cao.
-  Hình ảnh X quang thể hiện qua các giai đoạn: Giai đoạn đầu có hình ảnh thưa xương ở vùng hành xương. Nếu không điều trị kịp thời, vi khuẩn sẽ lan toàn bộ thân xương thể hiện bằng những ổ tiêu xương nhỏ xen kẽ với các vùng xương dày đậm do phản ứng tạo xương. Các tổn thương  này nhanh chóng lan ra toàn bộ thân xương. Phản ứng cốt mạc thể hiện hình ảnh các giải mờ chạy dọc theo hai bên thân xương tương ứng với phần xương bị viêm. Giai đoạn tiến triển cho thấy ổ tiêu xương có thể tạo thành ổ hoại tử lớn hơn, bên trong có chứa mảnh xương chết (đảo xương), mảnh xương chết bị dò ra phần mềm. Sự tăng sinh xương từ những bè xương thể hiện bằng hình ảnh dày đậm xương làm cho bờ xương phì đại, méo mó, thu hẹp giới hạn của ống tủy. Giai đoạn mạn tính cho thấy toàn bộ xương mờ đặc che lấp ống tuỷ do phản ứng tạo xương chiếm ưu thế. Có thể thấy các ổ khuyết xương do phẫu thuật nạo vét ổ hoại tử xương tạo nên. Khác với ổ tiêu xương, ổ khuyết xương có bờ viền nhẵn.
3.2.2. Viêm xương tuỷ xương do nguyên nhân gãy xương hở:
Quá trình viêm xương tuỷ chỉ diễn ra tại chỗ ở hai đầu xương của ổ gãy, ít khi lan toả ra toàn bộ xương như trong viêm xương tuỷ xương lan theo đường máu. Ổ gãy chậm liền xương. Bờ xương ổ gãy nham nhở có thể thấy phản ứng cốt mạc ở xương hai đầu ổ gãy.
3.2.3. Lao xương khớp.
- Lâm sàng: Thường xảy ra ở cột sống và các khớp lớn như khớp gối, khớp háng, khớp vai, cột sống. Vi khuẩn lao thường xuất phát từ lao phổi đến gây tổ thương ở đầu xương và lan vào khớp.
- Hình  ảnh X quang xuất hiện muộn hơn so với các dấu hiệu của lâm sàng từ 4- 6 tuần. Biểu hiện ban đầu là hình ảnh hẹp và mờ khe khớp, thưa xương ở các đầu xương cạnh khớp. Diễn biến tiếp theo là các ổ phá hủy xương đối diện ở hai đầu xương ngay bờ diện khớp (kiểu soi gương) khe khớp hẹp dần và không còn rõ giới hạn. Giai đoạn di chứng dẫn đến dính khớp (dính hai đầu xương của khớp hoặc dính chỏm và ổ khớp ).
3.3. Bệnh hoại tử  xương vô khuẩn
3.3.1. Hoại tử vô khuẩn tiêu chỏm xương đùi ở người lớn (bệnh Caisson)
- Lâm sàng: Thường gặp ở nam giới, lứa tuổi trung niên, có nghiện rượu, thuốc lá, hoặc dùng corticoid kéo dài, sau chấn thương, cũng có khi không có nguyên nhân rõ ràng. Có triệu chứng hạn chế vận động khớp háng.
- Hình ảnh X quang: giai đoạn đầu không thấy biến đổi trên phim X quang quy ước. Sau khoảng một tháng, thấy hình tiêu xương thành những ổ nhỏ trong lòng chỏm xương đùi, hình tổ ong đường bờ chỏm xương mất sự liên tục do bị vỡ. Một phần của chỏm xương bị lún xuống. Ổ cối không bị biến đổi. Nêú tiến triển lâu ngày sẽ dẫn đến tiêu chỏm xương đùi ở cả bên đối diện.
3.3.2. Bệnh hoại tử vô khuẩn sụn tiếp hợp chỏm xương đùi (bệnh Perthes-Legg-Calve)
- Lâm sàng: thường gặp ở trẻ em khoảng từ 5 -10 tuổi. Biểu hiện đau và hạn chế vận động một bên khớp háng.
- Hình ảnh X quang:  Giai đoạn đầu sụn tiếp hợp chỏm xương đùi có hình ảnh mờ đậm và xẹp nhỏ hơn bên lành. Thành phần chính của sụn tiếp hợp chỉ còn lại là chất vôi. Khe khớp háng rộng ra. Giai đoạn muộn, sụn tiếp hợp vỡ ra thành nhiều mảnh. Giai đoạn hồi phục và di chứng cho thấy hình ảnh cổ xương đùi bi biến dạng kiểu xoay trong (coxa vara)

3.3.3.Bệnh hoại tử sụn tiếp hợp lồi củ trước xương chày (Bệnh Osgood-
Schlatter):
- Lâm sàng: Bệnh gặp ở người trẻ, độ tuổi từ 10-16. Có triệu chứng đau mặt trước đầu trên xương chày nhất là khi vận động. Có thể có tiền sử chấn thương nhẹ ở mặt trước đầu gối.
- Hình ảnh X quang cho thấy sụn tiếp hợp lồi củ trước xương chày tăng đậm. Giai đoạn muộn phần sụn bị hoại tử sẽ bị vỡ ra thành nhiều mảnh, nằm tách biệt khỏi xương. Giai đoạn di chứng các mảnh sụn tiếp này vôi hoá và tồn tại vĩnh viến.
3.4. Bệnh u xương
3.4.1. U xương lành tính
- U xương sụn ( osteochondroma ) thường được gọi là chồi xương: thường xuất hiện ở vùng hành xương nhất là xương chi dưới. U xương có dạng như gai hay chồi mọc ra ở vùng hành xương. Bờ u tách biệt với vùng xương lành bên cạnh, có thể có cuống.Tiến triển của u rất chậm, có khi vài năm .
-  Kén xương (kén Mikulicz): thường đơn độc, xuất hiện ở thân các xương dài, không có triệu chứng lâm sàng. Được phát hiện thường sau gãy xương bệnh l‎ý do một chấn thương có thể rất nhẹ. Kén xương thể hiện trên phim là một vùng sáng, hình bầu dục nằm dọc theo trục dọc của xương, không có cấu trúc xương bên trong, ranh giới rõ. Trục của kén xương thường nằm ở chính giữa trục của thân xương. Kén xương kích thước lớn làm vỏ xương bị đẩy vồng ra, mỏng đi và dễ gây gãy xương.
- U tế bào khổng lồ: thường thấy ở đầu các xương dài, khoảng 15 % u tế bào khổng lồ có biểu hiện ác tính. U thể hiện trên phim X quang là một vùng sáng ở đầu và hành xương, ranh giới rõ, bên trong có nhiều vách. Khối u có khi nằm phía ngoài so với trục của thân xương. Trong trường hợp khối u thoái hóa ác tính, thường biểu hiện phá vỡ vỏ xương, phản ứng màng xương và xâm lấn phần mềm. Tuy nhiên những biểu hiện ác tính trên phim chụp X quang thường ở giai đoạn rất muộn, để xác định sớm cần chọc sinh thiết
3.4.2. U xương ác tính:
- Phân loại : ung thư nguyên phát ( Sarcome xương ), ung thư thứ phát ( di căn ung thư ).
- Hình ảnh X quang: thể hiện sự thay đổi cấu trúc xương ở ba thể
+ Thể tạo xương (tăng sinh xương): một vùng tăng đậm độ cản quang làm phình to xương và che lấp giới hạn của ống tủy. Phản ứng màng xương có dạng vuông góc với trục của thân xương ( hình lông thú hay tia nắng mặt trời )
+ Thể tiêu xương: cho thấy một vùng xương mất toàn bộ cấu trúc, giới hạn nham nhở, không đều, thường phá vỡ vỏ xương và xâm lấn vào phần mềm.
+ Thể hỗn hợp : bao gồm cả hình tăng sinh xương và hình tiêu hủy xương.
- Phân biệt u xương lành tính và ác tính
4. Một số bệnh về khớp
4.1. Thoái hóa khớp:
- Thường gặp  ở người lớn tuổi do tổn thương sụn khớp. Biểu hiện đau khớp và hạn chế vân động
- Thể hiện trên phim X quang:  Hình ảnh gai xương ở vùng rìa của đầu xương, dày đậm xương dưới sụn, hẹp khe khớp và đôi khi có hình một số ổ khuyết xương nhỏ ở đầu xương.
4.2. Bệnh Goutte:
- Là một bệnh rối loạn chuyển hóa do lắng đọng muối u - rát ở vùng khớp, đặc biệt là  khớp bàn – ngón cái ở bàn chân.
- Hình ảnh  điển hình là hẹp khe khớp, gai xương ở đầu xương và các ổ khuyết xương hình tròn hay bầu dục ở giữa hoặc phía bên cạnh đầu xương.

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2018

Cách bổ sung Canxi an toàn - hiệu quả cho trẻ, mẹ không nên bỏ qua

VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP


VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP
Viêm tuyến tiền liệt cấp tính là một tình trạng nhiễm khuẩn nặng, thường đi kèm với viêm bàng quang cấp tính. Vì vậy triệu chứng lâm sàng cũng giống như viêm bàng quang cấp nhưng thường kèm theo có sốt cao, thậm chí có thể gây  nhiễm khuẩn huyết. Vì vậy, viêm tuyến tiền liệt cấp tính cần được điều trị sớm và đúng, đủ liều thuốc và đủ thờigian.

1.    NGUYÊNNHÂN

Viêm tuyến tiền liệt cấp tính thường do vi khuẩn gram (-). Các loại vi khuẩn thường gặp là:
+   Escherichia coli
+   Proteus mirabilis
+   Klebsiella
+   Staphylococus saprophyticus
+   Pseudomoras aeruginosa
+   Staphylococus aereus

2.         CHẨNĐOÁN

a)          Lâmsàng
-            Các triệu chứng lâm sàng gồmcó:
+  Tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu khó.
+  Có thể có tiểu máu, tiểu mủ hoặc dịch, mủ niệu đạo.
+  Đau vùng niệu đạo, tầng sinh môn.
-        Các triệu chứngkhác:
+  Thường có sốt cao, kèm theo gai rét.
+  Tuyến tiền liệt: to và đau vì vậy khi khám nên nhẹ nhàng.

b)     Cận lâmsàng

-            Xét nghiệm nướctiểu:
+ Có bạch cầu niệu dương tính.
+  Cấynướctiểuhoặcdịchniệuđạotìmvikhuẩngâybệnh,nếukếtquảdương tính thì làm kháng sinhđồ.
-        Xét nghiệmmáu:
+  Bạch cầu máu tăng.
+  Cấy máu khi có sốt cao hoặc nghi có nhiễm khuẩn huyết.
-                  Siêu âm: Có thể phát hiện thành bàng quang dày, tuyến tiền liệt to hơn bình thường. Trong trường hợp người bệnh > 40 tuổi có phì đại lành tính tiền liệt tuyến thì khó đánhgiá.

3.    ĐIỀUTRỊ

a)   Nguyêntắc
-            Điều trị ngay khi có chẩn đoán viêm tuyến tiền liệt cấptính.
-             Nếu người bệnh có sốt cao nên điều trị kháng sinh đường tĩnh mạch và phối hợp 2 loại kháng sinh trong những ngàyđầu
-             Thời gian dùng kháng sinh tối thiểu là 14 ngày, có thể kéo dài trên 3 tuần nếu cần thiết.
-             Nếu có nhiễm khuẩn huyết thì đồng thời việc điều trị kháng sinh cần bù đủ dịch, cho thêm thuốc giảm đau non- steroids nếucần.
b)   Các kháng sinh có thể lựa chọn một trong các nhóm thuốcsau:
-   Ưu tiên nhóm quinolon khi chưa có kết quả cấy vikhuẩn.
+ Levofloxacin viên 500 mg, uống 1 viên/lần x 1 lần/ngày 14- 28 ngày,
Hoặc:
+  Nofloxacin viên 400 mg, uống 1 viên/lần, 2 lần/ngày trong 14 - 28 ngày
+  Ofloxacin viên 200 mg, uống 1 viên/lần, 2 lần/ngày trong 14 - 28 ngày.
-   Nhóm Trimethoprim Sulfamethoxazol vẫn có thể được lựachọn.
-   Nếu cần phối hợp 2 kháng sinh, có thể phối hợp nhóm quinolon với Cephalosporin thế hệ 3 - 4 hoặc Amoxicilline +clavulanate.
c)   Điều trị hỗtrợ
-   Đủ nước để nước tiểu đạt khoảng 2 lít/24h.
-   Giảm đau non – steroid nếucần
-   Chú ý khi có bí tiểu bàng quang căng: Không đặt thông tiểu. Nếu thật cần thiết sẽ mở thông bàng quang trên xương mu để tránh khả năng gây nhiễm khuẩnhuyết.

4.TIÊNLƯỢNG

Viêm tiền liệt tuyến cấp tính do vi khuẩn là một tình trạng nhiễm khuẩn nặng. Tuy nhiên nếu được điều trị sớm, đúng, đủ liều và đủ thời gian dùng thuốc thì bệnh vẫn có thể khỏi hoàn toàn. Nếu điều trị không kịp thời, vi khuẩn kháng thuốc… có thể diễn biến thành viêm tuyến tiền liệt mạn tính.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

Mẹo chữa ho cho trẻ không cần dùng thuốc



  • 6
Trẻ ho quá mức trở thành một trạng thái bất lợi cho cơ thể, lúc này, bệnh nhi phải được sử dụng các biện pháp can thiệp cần thiết.
Theo thạc sĩ, bác sĩ Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Hà Nội), ho là một trong những triệu chứng rất thường gặp ở trẻ em trong nhiều căn bệnh như viêm họng, viêm amydal, viêm phế quản, viêm phế quản phổi, ho gà, hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm xoang,… với nhiều nguyên nhân khác nhau.
Ở điều kiện sinh lý bình thường, ho là một phản xạ có tính bảo vệ cơ thể. Điều đó giúp làm sạch đường thở, tống xuất đờm, dịch tiết hoặc vật lạ lọt vào đường hô hấp, giúp nhung mao hô hấp hoạt động tốt.
Tuy nhiên, trẻ ho quá mức lại trở thành một trạng thái bất lợi cho cơ thể và buộc bệnh nhi phải được sử dụng các biện pháp can thiệp cần thiết.
Thạc sĩ Toàn cho biết trong y học cổ truyền, ho thuộc phạm vi chứng “khái thấu” và được trị liệu bằng nhiều biện pháp khác nhau.
Meo chua ho cho tre khong can dung thuoc hinh anh 1
Ho kéo dài rất bất lợi cho trẻ. Ảnh: Stethnews .

1. Bài thuốc dân gian

- Thịt ô mai (quả mơ) 3 quả, cam thảo 5 lát. Hai thứ giã nhỏ, ngậm thường xuyên, với trẻ nhỏ tuổi có thể hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng bằng cách nhỏ vào họng của trẻ mỗi lần 5 giọt, mỗi ngày 2-3 lần.
- Lá hẹ tươi 10 lá, đường phèn vừa đủ. Lá hẹ rửa sạch, thái nhỏ, đem hấp cách thủy cùng đường phèn, cho trẻ uống mỗi lần 2-3 thìa cà phê, 2 lần/ngày. Dùng để chữa cho trẻ khi bị cảm cúm có ho, sốt, sổ mũi.
- Tỏi lâu năm 3-4 nhánh, bóc vỏ, đập dập, cho vào cốc, đổ khoảng 100 ml nước sôi ngâm qua đêm, hôm sau lấy ra cho trẻ uống mỗi ngày 3 lần sau bữa ăn, có thể hòa thêm một chút đường cho dễ uống và làm giảm tính kích thích của tỏi.
- Bách bộ 6 g, bạch tiền 6 g, sa sâm 9 g, xuyên bối mẫu 3 g, sắc đặc, chia uống 3 lần trong ngày, dùng liên tục 5 ngày.
- Cúc vạn thọ 15 bông, sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút đường đỏ, chia uống 3 lần trong ngày.
- Kinh giới, bách bộ, bạch tiền và trần bì mỗi thứ 6 g, tử uyển 9 g, cát cánh và cam thảo mỗi thứ 6 g, sắc với một bát nước, cô lại còn nửa bát, chia uống 2-3 lần trong ngày. Dùng cho tất cả các trường hợp ho.
- Rễ cây dâu 20 g (cạo vỏ, tẩm mật ong, sao vàng) lá hẹ 20 g, hoa đu đủ đực 20 g, mạch môn 20 g, tất cả đem sắc với ba bát nước, cô lại còn một bát, hòa thêm đường phèn,chia uống 3 lần trong ngày.
- Lá dâu tằm 20 g, bạc hà 10 g, rau má 20 g, rễ cây chanh 10 g, lá hẹ 10 g, sắc kỹ lấy nước, chia uống vài lần trong ngày, có thể hòa thêm một chút đường phèn. Dùng chữa ho do cảm sốt.
- Gừng tươi 40 g, củ sả 40 g, đường trắng 100 g. Hai thứ giã nhỏ, vắt lấy nước, hòa đường rồi cô nhỏ lửa thành dạng kẹo, mỗi lần lấy một ít ngậm dần.
- Quất hồng bì 20 g, đường phèn lượng vừa đủ. Quất hồng bì rửa sạch, bỏ hạt, đem hấp cách thủy với đường phèn, mỗi ngày cho trẻ uống 2 lần, mỗi lần một thìa cà phê.
- Vỏ trắng rễ cây dâu 12 g (ngâm nước gạo một đêm), hoa cúc 12 g, mạch môn 12 g (đồ chín, rút bỏ lõi), bạc hà 8 g, lá chanh 16 g. Tất cả đem sắc với 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống 2-3 lần trong ngày.

2. Chữa ho không dùng thuốc

Thạc sĩ Toàn hướng dẫn các bố mẹ có thể dùng một vài giọt dầu như dầu sả, tinh dầu tràm, dầu hạnh nhân hoặc tinh dầu bạc hà vào lòng bàn tay, xoa đều rồi day xát nhẹ nhàng lòng bàn chân cho trẻ, bấm nhẹ điểm nối giữa 2/5 và 3/5 đường nối đầu mút ngón trỏ với điểm giữa bờ sau gót chân.
Tiếp đó, cha mẹ xoa vào vùng liên sống bả (ở giữa hai xương bả vai) cho trẻ đến lúc nóng lên. Cuối cùng, tiến hành vỗ rung long đờm giảm ho bằng cách khum bàn tay lại rồi vỗ đều vào vùng lưng trẻ ở phần giữa hai bả vai ở tư thế nằm hoặc ngồi đầu hơi dốc xuống.
Chú ý làm nhịp nhàng liên tục, tiến hành lúc trẻ đói, tốt nhất là buổi sáng ngủ dậy, khi chưa ăn gì.   

Nay đã có sản phẩm dùng cho bé thay cho các bài thuốc dân gian, tiện lợi, dễ sử dụng, hiệu quả tức thì. 


Sản phẩm ăn ngon, ngủ tốt, bé thông minh

Khỏi lo trẻ biếng ăn, còi xương, chậm lớn.
Nay đã có sản phẩm giúp các bé kích thích ăn ngon, tăng cường hấp thu và tăng sức đề kháng cho trẻ. Các bà mẹ nên chọn cho bé 1 hộp ăn ngon ngủ tốt, bé thông minh.
Chất lượng đảm bảo, giá ưu đãi.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More